Thiết Kế Nội Thất Nhà Đẹp, Chuyên Nghiệp Tại Hà Nội - A&MORE
Trang chủ »  TIN TỨC »  Kiến trúc đẹp »  “Cha đẻ” của phong cách kiến trúc Đông Dương

“Cha đẻ” của phong cách kiến trúc Đông Dương

Ernest Hébrard được coi là cha đẻ của phong cách kiến trúc Đông Dương dựa vào những đóng góp quý giá của ông đối với cả một giai đoạn đáng nhớ của lịch sử.

Những công trình mang phong cách Pháp từ xưa đến nay vẫn luôn được đông đảo người dân Việt Nam yêu mến và coi là chuẩn mực của một công trình đẹp, đẳng cấp. Sở dĩ có điều này là bởi suốt thời kỳ Pháp thuộc, nước ta đã bị ảnh hưởng khá nhiều từ mọi lĩnh vực: nề nếp sinh hoạt, lối sống, kiến trúc… Dẫn tới việc suốt một thời kỳ dài, những tiêu chuẩn về vẻ đẹp Pháp đã tác động không nhỏ đến các công trình lớn của nước nhà.

Tại Việt Nam cho tới hiện nay vẫn còn giữ được những công trình độc đáo là sự kết hợp giữa nét kiến trúc cổ của phương Đông và nét Tây của kiến trúc Pháp, nhiều năm qua đi nhưng đây vẫn là di tích mà người dân Việt hết sức trân trọng. Sự kết hợp này được gọi là phong cách kiến trúc Đông Dương. Nhắc đến phong cách này, người ta lập tức nghĩ ngay đến kiến trúc sư Ernest Hébrard, người được gọi là “cha đẻ” của phong cách kiến trúc đặc biệt này.



Chân dung Ernest Hébrard (bên trái).

Kiến trúc sư có công lớn trong thay đổi diện mạo đô thị

Ernest Hébrard (1875 – 1933) là kiến trúc sư, nhà khảo cổ học, nhà quy hoạch đô thị người Pháp. Ông từng là sinh viên trường ĐH Mỹ Thuật Paris, học trò của 2 kiến trúc sư nổi tiếng toàn nước Pháp thời bấy giờ là Leon Ginain và Scellier de Risors. Ernest Hébrard nổi tiếng là một kiến trúc sư tài năng, ông được biết đến với đồ án quét sạch mọi đặc trưng phương đông của Thessaloniki - Hy Lạp, nâng cấp Casablanca và cung điện Diocletian tại Split, và quy hoạch các thành phố ở thuộc địa của Pháp ở Đông Dương.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, Đông Dương - với tư cách là một bộ phận của Đế chế Pháp, cũng phải thi hành những điều kiện quy định như ở chính quốc. Trong những năm 20, luật này cũng được áp dụng ở Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và Phnom Pênh. Năm 1921, Toàn quyền Maurice Long yêu cầu lập ở Hà Nội một cơ quan trung ương về kiến trúc và quản lý đô thị. Năm 1923, Erest Hébrard được bổ nhiệm làm Giám đốc sở Quy hoạch kiến trúc Đông Dương thuộc Pháp. Cũng chính từ những năm tháng tại chức ở vị trí này, Hébrard đã có những đóng góp quý giá và được coi là “cha đẻ” cho phong cách kiến trúc Đông Dương.

Nói về những đóng góp của Ernest Hébrard, ngoài việc xây dựng nên các công trình tên tuổi gắn liền với lịch sử Việt Nam, ông còn có công lớn trong việc quy hoạch nên các đô thị hiện đại và đẹp. Lúc bấy giờ, vấn đề quy hoạch đô thị ở Đông Dương đang rất “nhức nhối”, và bất cứ nhà kiến trúc nào đặt chân tới thuộc địa xa xôi này đều đem theo bên mình ý tưởng xây dựng đô thị theo mô hình của thành thị nước Pháp.

Năm 1895, ông viết thư gửi cho em gái đã mô tả Hà Nội như sau: “… Cái rét hanh của những ngày qua đã quét sạch bầu trời, ánh sáng chan hoà mở rộng chân trời, mở rộng bầu trời và ý nghĩ. Ánh sáng đó lan tràn, nở rộ, và tất cả cảnh quan rực rỡ này đón chào nó. Cứ cách một trăm bước lại có một lùm tre, một bìa rừng, dưới tán cây đa xuất hiện một ngôi chùa (…). Con đường đất len lỏi qua những lùm cây rậm rạp. Dưới cành lá là ngôi làng chạy dài vô tận, những ngôi làng nghèo nàn làm bằng phên đan, bằng chiếu và vách đất, nhưng cuộc sống vẫn sôi động biết bao! (…). Trên đường, những dòng người nhỏ bé gồm cả đàn ông và đàn bà bước đi nhanh như đàn kiến, tất cả đều tất bật, gánh gồng nặng trĩu ở hai đầu đòn gánh, họ từ ruộng đồng về, lùa theo đàn trâu. Đi cách xa Hà Nội đến 6 cây số vẫn là con đường chạy dài, chen chúc như đường phố Bac”.



Nhà hát lớn là một trong những công trình biểu tượng của Hà Nội.



Phủ Thủ tướng hiện là nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của đất nước.

Ernest Hébrard đã giúp Hà Nội có sự thay đổi đáng kể về quy hoạch đô thị. Để có được một Hà Nội cổ phảng phất chút kiến trúc phương Tây như bây giờ thì không thể nào không nhắc tới kiến trúc sư Ernest Hébrard.

Những tìm tòi sáng tạo của Ernest Hébrard và các kiến trúc sư cùng thời kỳ theo phong cách kiến trúc Đông Dương đã có ảnh hưởng và đóng góp rất đáng trân trọng vào xu hướng sáng tác tìm về cội nguồn. Phong cách này đã khích lệ các kiến trúc sư Việt Nam, sinh viên của trường Mỹ thuật Đông Dương tiếp tục đi theo con đường nghệ thuật dân tộc.

Một phần lớn quy hoạch chủ đạo năm 1924 ở Hà Nội dành cho khu vực dinh toàn quyền, bắt đầu từ phía Hồ Tây. Đối với Hébrard, người đã từng đưa ra quy hoạch mở rộng Đà Lạt, muốn thực hiện ở Hà Nội một quy hoạch như đã từng làm ở thành phố Rabat (Ma-rốc). Ông đã xóa bỏ quy hoạch của Tòa thị chính Hà Nội năm 1890 do nhân viên Sở công chính lập và quy hoạch năm 1902 của Sở địa lý Đông Dương lập. Hébrard đã đưa ra những nguyên tắc đơn giản là nét chung của chương trình đô thị thuộc địa thuộc trường phái Pháp: quy hoạch theo vùng, từ bỏ quy hoạch dễ dãi của bố cục thành ô bàn cờ mà ông cho là không có lợi vì nó ngăn cản việc nâng cao giá trị của những công trình lớn, việc trồng những hàng cây theo tập quán của Pháp, tạo nên nơi dạo chơi và hóng mát quý giá, sắp xếp những công viên lớn và lối đi dạo theo kinh nghiệm của thành phố Rangoon, cách bố trí đó đã tạo nên những khu vực dự trữ đất đai cho tương lai mà không phải để lại những đầm lầy ô nhiễm.

Về vấn đề zoning, vệ sinh công cộng và phân bố các hoạt động dân cư cũng đã đặt ra một vấn đề nghiêm trọng: sự chung sống của hai tầng lớp trên cùng một địa bàn, một bên là thế lực thực dân và một bên là người bản xứ. Xuất phát từ nỗi sợ lây lan dịch bệnh, Hébrard nêu lên sự cần thiết của việc tách biệt với khu vực cư trú của tầng lớp hữu sản nhưng không có ranh giới rõ rệt.

Hình dáng đô thị ở thuộc địa là mô hình có cấu trúc theo các trục lộ lớn và bố trí các kiến trúc đồ sộ trong quy hoạch, trong đó hai mặt hoành tráng và duyên dáng bổ sung cho nhau. Bản quy hoạch đã thay đổi bộ mặt của thành phố, với việc mở ra những không gian công cộng, khai thác các đường phố chạy dài, sắp xếp các khu hành chính mới nằm về phía Tây thành cổ và hướng phát triển đô thị về phía hồ Tây.

Phong cách kiến trúc Đông Dương

“Phong cách kiến trúc Đông Dương” là một phong cách chiết trung giữa Âu – Á. Nói về sự ra đời của phong cách này, những kiến trúc mang từ Pháp sang, sau một số năm thì bộc lộ nhiều bất cập, như không phù hợp với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, gió mạnh… cũng như tập quán sinh hoạt, truyền thống thẩm mỹ và cảnh quan Việt Nam. Sau nữa là giai đoạn những năm đầu thế kỷ 20, ảnh hưởng của Pháp ở Việt Nam giảm sút. Để tranh thủ được lòng dân và thân thiện hơn với Việt Nam, một số kiến trúc sư Pháp dạy tại trường Mỹ thuật Đông Dương nghĩ cách thiết kế những công trình mang tính chất Việt Nam để lấy lại lòng tin của dân Việt.



Trường Đại học Đông Dương xưa, nay là Đại học Dược Hà Nội.



Những họa tiết trên cột mang vẻ đẹp ấn tượng.

Đặc điểm của kiến trúc Đông Dương:

- Kỹ thuật và vật liệu xây dựng: Sử dụng rộng rãi kỹ thuật và vật liệu xây dựng mới như hệ khung bê tông cốt thép chịu lực, khung thép tiền chế, sành sứ nhiều màu, ngói ardoise (đá xám chẻ), gạch caro. Các phương tiện kỹ thuật mới khá tiên tiến được áp dụng như: cột thu lôi, đèn điện, cổng sắt uốn.

- Giải pháp kiến trúc: Áp dụng các giải pháp thông thoáng, cách nhiệt để phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới như bố trí các dãy hành lang, dàn pergola rộng rãi chạy dọc theo công trình. Trên phần tường sát trần thường bố trí các lam gió để tạo sự thông thoáng và lấy sáng cho không gian bên trong. Đa số các công trình được bố trí thêm các sân trong, giếng trời để tăng sự thông thoáng và chiếu sáng tự nhiên.

- Mái: Sử dụng mái bằng (đối với các công trình lớn) hoặc mái lợp ngói (đối với các công trình nhỏ hơn). Mái ngói thường nhô ra xa để che nắng mưa, có bố trí các “khu đĩ” (không gian trống hình tam giác ở đầu hồi nhà, được tạo nên bởi hai mái chính và mái bên) để tạo sự thông thoáng cho phần bên trong. Xuất hiện các sênô thu nước mưa chạy dọc theo mái. Một số công trình sử dụng dạng mái vút cong ở các góc, mái chồng diêm theo kiểu kiến trúc truyền thống, có hoa văn trang trí ở đỉnh mái và các góc cong của mái.

- Cửa: Bố trí nhiều cửa trên tường công trình. Cửa sổ cao, mở rộng để tăng sự thông thoáng, chiếu sáng tự nhiên. Các công trình sử dụng phổ biến kiểu cửa lá sách, đảm bảo được sự thông gió tự nhiên cho không gian bên trong ngay cả trong lúc đóng. Cửa sổ không chỉ được bố trí trên tường công trình, mà còn được bố trí phía ngoài hành lang, đặc biệt là hành lang ở những phía chịu ánh sáng trực tiếp của mặt trời.



Sở Tài chính Đông Dương xưa, nay là Trụ sở Bộ ngoại giao.



Bảo tàng lịch sử Việt Nam.

Phong cách kiến trúc Đông Dương cho tới nay vẫn còn giữ lại được một số công trình tiêu biểu tại nhiều thành phố lớn như: Hà Nội, Sài Gòn… Phong cách này là dư âm cổ kính cho những năm tháng hào hùng của dân tộc. Giá trị văn hóa và kiến trúc mà nó mang lại luôn nắm một vị trí đặc biệt trong lòng mỗi người dân Việt Nam, đánh dấu cho giai đoạn không thể quên của lịch sử. Và Ernest Hébrard, người kiến trúc sư tài năng này sẽ luôn được thế hệ sau ghi nhớ rằng: đây là cha đẻ, là người có những đóng góp vô cùng lớn trong việc khích lệ những kiến trúc sư trẻ Việt Nam tiếp tục đi theo con đường nghệ thuật dân tộc.

A&more Architecture
Sản phẩm nổi bật